Web
Analytics Made Easy - StatCounter

Thuốc ARV Mylan

Mã sản phẩm: SP284

Thuốc ARV Mylan dùng để chống phơi nhiễm cho người có hành vi nguy cơ hoặc điều trị HIV cho người đã từng bị HIV

850.000₫
Còn hàng
Số lượng
 
1
 
Giá bán theo:

Cam kết hàng chính hãng

Giá theo theo hộp rẻ hơn. Ưu tiên bán tại Nhà thuốc, nếu giao hàng khách chịu tiền cước theo giá Bưu điện. Không đúng hàng không nhận.

Cam kết chính hãng. Vui lòng lưu lại vỉ vỏ, nhãn, bao bì sau khi sử dụng để đối chiếu thuốc "song hành", xách tay, không rõ nguồn gốc.



Lưu ý tình trạng hàng hóa

Vui lòng liên hệ để kiểm tra hàng có sẵn trước khi đến cửa hàng thuốc hiếm, số lượng hạn chế.

Phí ship tính theo các dịch vụ giao hàng thông thường

Một số thuốc cần bảo quản lạnh hoặc cồng kềnh nên giá cước có thể thay đổi

Thuốc xuất hoá đơn khi yêu cầu (tính phí dịch vụ)

Chi tiết sản phẩm

Thuốc ARV (Mylan) chống phơi nhiễm và điều trị HIV

 

Thuốc ARV (viết tắt của Antiretroviral trong tiếng Anh nghĩa là dùng để điều trị AIDS). Thuốc ARV có nhiều hãng sản xuất dưới nhiều tên thương mại (biệt dược) khác nhau. Trên thị trường hiện nay thường chỉ gặp ARV của Mylan (Ấn Độ), trước đây còn Trioday của hãng Cilpro (cũng của Ấn Độ) nay hết hàng ở Việt Nam.

 

Thuốc ARV phối hợp 3 thành phần chính là Tenofovir 300mg, Lamivudine 300mg và Efavirenz 600mg), hiển nhiên có một số tá dược khác. (Cellulose vi tinh thể, natri croscarmellose, hydroxypropyl cellulose, natri lauryl sulfat, natri clorid, magnesi stearat, lactose monohydrat)

 

Dạng bào chế: Viên nén

 

Quy cách đóng gói: Hộp 1 lọ x 30 viên

 

Chỉ định: Chống phơi nhiễm (dành cho người có hành vi nguy cơ phơi nhiễm) và điều trị HIV/AIDS (ức chế virus, không cho bệnh tiến triển) chi tiết theo liều dùng
 

Cách sử dụng thuốc ARV: Việc điều trị nên kê toa theo  bác sĩ chuyên nghành, có kinh nghiệm và được đào tạo trong việc kiểm soát nhiễm HIV.

 

Dùng để chống phơi nhiễm HIV

Thuốc ARV điều trị dự phòng sau phơi nhiễm cho người có hành vi (chủ động hoặc bị động) dẫn đến nguy cơ phơi nhiễm HIV (AISD)

 

 

Người lớn: Liều khuyến cáo của thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) là 1 viên, 1 lần mỗi ngày.


Nên uống kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) lúc bụng đói vì thức ăn có thể làm tăng nồng độ của efavirenz, điều này có thể tăng tần số xuất hiện các phản ứng phụ. Nên uống thuốc kết hợp liều cố định vào buổi tối để giảm các phản ứng phụ trên hệ thần kinh trung ương.

Trẻ em: Tính an toàn và hiệu quả của thuốc kết hợp liều cố định ở bệnh nhân dưới 18 tuổi chưa được thiết lập. Thuốc kết hợp liều cố định không được dùng cho trẻ em cho đến khi có thêm các dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của thuốc kết hợp liều cố định ở bệnh nhân dưới 18 tuổi. Vì vậy, thuốc kết hợp liều cố định  không được khuyến cáo cho trẻ em.

Người lớn tuổi: Không có sẵn dữ liệu để đưa ra liều khuyến cáo cho những bệnh nhân trên 65 tuổi.

Suy thận
Viên kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) không khuyến cáo cho bệnh nhân suy thận mức độ trung bình đến nặng (độ thanh thải creatinin < 50ml/phút). Những bệnh nhân suy thận mức độ trung bình hoặc nặng yêu cầu điều chỉnh khoảng cách thời gian giữa các liều dùng nên viên nén kết hợp liều cố định này không phù hợp.
Suy gan
Việc điều chỉnh liều của viên kết hợp liều cố định là không cần thiết đối với những bệnh nhân suy gan trung bình hoặc nặng trừ khi có kèm suy thận.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Viên kết hợp liều cố định được chống chỉ định ở những bệnh nhân được biết quá mẫn với tenofovir hoặc efavirenz hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

CẢNH GIÁC VÀ THẬN TRỌNG
Viên kết hợp liều cố định không được dùng với bất kỳ thuốc nào khác có chứa tenofovir disoproxil fumarat hoặc lamivudin hoặc efavirenz.
Viên kết hợp liều cố định chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân dưới 18 tuổi.

Suy thận:
Viên kết hợp liều cố định không khuyến cáo cho bệnh nhân suy thận mức độ trung bình đến nặng (độ thanh thải creatinin < 50ml/phút). Những bệnh nhân suy thận mức độ trung bình hoặc nặng yêu cầu phải điều chỉnh khoảng cách thời gian giữa các liều dùng để đảm bảo nồng độ đạt ngưỡng điều trị của viên kết hợp liều cố định không khuyến cáo cho bệnh nhân suy thận mức độ trung bình đến nặng (độ thanh thải creatinin < 50ml/phút). Những bệnh nhân suy thận mức độ trung bình hoặc nặng yêu cầu phải điều chỉnh khoảng cách thời gian giữa các liều dùng nên viên nén kết hợp liều cố định này không phù hợp.

Suy thận, kể cả giảm photphat huyết đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng sử dụng tenofovir disoproxil fumarat.
Theo dõi chức năng thận (độ thanh thải creatinin và photphat huyết thanh) được khuyến cáo trước khi dùng viên kết hợp liều cố định, mỗi 4 tuần trong năm đầu, và sau đó mỗi 3 tháng. Cần theo dõi chức năng thận thường xuyên hơn ở những bệnh nhân có nguy cơ, hoặc có tiền sử suy thận và những bệnh nhân suy thận.

Viên kết hợp liều cố định không được đánh giá ở những bệnh nhân đang dùng các thuốc có độc tính trên thận (như aminoglycosid, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidin, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin-2). Nên tránh dùng viên kết hợp liều cố định đồng thời hoặc dùng gần với các thuốc có độc tính và các thuốc có độc tính trên thận không tránh được.

Viên kết hợp liều cố định không được đánh giá lâm sàng ở những bệnh nhân đang dùng những thuốc mà được bài tiết qua cùng chất vận chuyển ở thận, chất vận chuyển 1 anion hữu cơ ở người (HOAT1) (như adefovir dipivoxil; cidofovir, một thuốc được biết gây độc thận).

Viên kết hợp liều cố định nên tránh dùng ở những bệnh nhân đã từng điều trị với thuốc kháng retrovirus có chủng đột biến K65R.

Viên kết hợp liều cố định không được nghiên cứu ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Những bệnh nhân có khả năng bị suy giảm chức năng thận nhiều hơn; vì thế, nên thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân lớn tuổi bằng viên kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg).

Bệnh gan:
Một nghiên cứu dược động học đã được thực hiện ở những bệnh nhân không bị nhiễm HIV với các mức độ suy gan khác nhau. Ở những bệnh nhân này sự thay đổi về dược động học là không đáng kể.

Những dữ liệu về an toàn và hiệu quả của viên kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) bị hạn chế ở những bệnh nhân rối loạn chức năng gan dưới mức ý nghĩa. Những bệnh nhân bị viêm gan B hoặc C mãn tính và được điều trị với trị liệu kháng retrovirus kết hợp có nguy cơ tăng các phản ứng khong mong muốn ở gan nặng và có thể gây tử vong. Trong trường hợp trị liệu kháng virus kết hợp cho viêm gan B hoặc C, vui lòng tham khảo thông tin sản phẩm liên quan cho những thuốc này.

Những bệnh nhân có suy chức năng gan trước đó kể cả viêm gan mãn tính thể hoạt động có sự tăng tần số xuất hiện các bất thường về chức năng trong suốt thời gian trị liệu kháng retrovirus kết hợp và nên được theo dõi theo thực tế. Nếu có chứng cứ của bệnh gan trở nên xấu hơn ở những bệnh nhân này, phải cân nhắc để gián đoạn hoặc ngưng điều trị.

Chứng nhiễm acidlactic: Chứng nhiễm acid lactic, thường kèm với chứng gan to và những nhiễm mỡ ở gan, đã được ghi nhận khi dùng các thuốc đồng đẳng nucleosid. Các dữ liệu lâm sàng và tiền lâm sàng gợi ý rằng nguy cơ xảy ra chứng nhiễm acid lactic, một tác động của các đồng đẳng nucleoside, thì thấp đối với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg). Tuy nhiên, vì tenofovir có cấu trúc liên quan đến các đồng đẳng nucleosid nên nguy cơ này không thể loại trừ. Các triệu chứng sớm (tăng lactat huyết có triệu chứng) kể cả các triệu chứng tiêu hóa nhẹ ( buồn nôn, nôn và đau lưng), sự khó ở không rõ ràng, và giảm sự thèm ăn, giảm cân, các triệu chứng hô hấp (thở sâu và/hoặc nhanh) hoặc các triệu chứng thần kinh (kể cả kém vận động). Chứng nhiễm acid lactic có tỉ lệ tử vong cao và có thể đi kèm viêm tụy, suy gan hoặc suy thận. Chứng nhiễm acid lactic thường xảy ra sau một vài tháng hoặc nhiều tháng điều trị.

Việc điều trị với các đồng đẳng nucleosid nên được ngưng nếu có sự tăng lactat huyết có triệu chứng và nhiễm acid lactic/ nhiễm acid chuyển hóa, chứng gan to tiến triển, hoặc sự tăng nhanh nồng độ aminostransferase.

Nên thận trọng khi dùng các đồng đẳng nucleosid cho bất kỳ bệnh nhân nào (đặc biệt là phụ nữ béo phì) có chứng gan to, viêm gan hoặc các yếu tố nguy cơ được biết khác cho bệnh gan và chứng nhiễm mỡ ở gan. Những bệnh nhân bị nhiễm đồng thời với viêm gan C và được điều trị với alpha interferon và ribavirin có thể tạo thành một nguy cơ đặc biệt.

Những bệnh nhân có nguy cơ cao cần được theo dõi chặt chẽ.
Hội chứng phục hồi miễn dịch: Ở những bệnh nhân nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nặng vào thời điểm trị liệu kháng retrovirus kết hợp (CART), một phản ứng viêm đối với những mầm bệnh không có triệu chứng hoặc những mầm bệnh cơ hội còn lại có thể nảy sinh và gây những tình trạng lâm sàng nguy hiểm, hoặc làm trầm trọng thêm triệu chứng bệnh. Những phản ứng tiêu biểu như thế đã được quan sát thấy trong vòng vài tuần hoặc vài tháng đầu của trị liệu kháng retrovirus kết hợp. Các ví dụ liên quan là viêm võng mạc virus cự bào, nhiễm trùng toàn thân và/hoặc sự nhiễm trùng do mycobacterium, và viêm phổi do Pneumocystis carinii. Bất kỳ triệu chứng viêm nào nên được đánh giá và điều trị khi cần thiết.

Dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) và didanosin làm tăng 40-60% sự phơi nhiễm toàn thân của didanosin mà có thể làm tăng nguy cơ các phản ứng phụ liên quan đến didanosin. Các trường hợp viêm tụy và nhiễm acid lactic, đôi khi gây tử vong, hiếm được ghi nhận.

Liệu pháp điều trị với 3 thuốc nucleosid: tỉ lệ thất bại về virus học cao và xuất hiện kháng thuốc ở giai đoạn đầu đã được ghi nhận khi thuốc kết hợp liều cố định (/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) được kết hợp với lamivudin và abacavir cũng như với lamivudin và didanosin khi dùng liều một lần mỗi ngày.

Nhiễm trùng cơ hội: Những bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) hay bất kỳ trị liệu kháng retrovirus nào khác đều có thể tiếp tục mắc các nhiễm trùng cơ hội và các biến chứng khác của bệnh nhiễm HIV, và vì thế nên duy trì việc theo dõi lâm sàng chặt chẽ bởi những thầy thuốc có kinh nghiệm trong điều trị những bệnh liên quan đến HIV.

Sự lây truyền HIV: Bệnh nhân phải được khuyên rằng trị liệu kháng retrovirus, kể cả thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg), không ngăn ngừa được nguy cơ lây truyền HIV cho những người khác thông qua quan hệ tình dục hay sự nhiễm qua máu. Cần phải tiếp tục thận trọng.

Viêm tụy: Hiếm xảy ra các trường hợp viêm tụy. Nên ngưng ngay việc điều trị với các thuốc kết hợp liều cố định định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng, triệu chứng hay các bất thường cận lâm sàng gợi ý viêm tụy xảy ra.

Loạn chức năng ty lạp thể: Các đồng đẳng nucleosid và nucleotid đã được chứng minh trên in vitro và in vivo là gây ra sự phá hủy ty lạp thể ở mức độ khác nhau. Có những báo cáo của sự loạn chức năng ty lạp thể ở những trẻ sơ sinh âm tính với HIV đã phơi nhiễm trong tử cung và/hoặc sau sinh với các đồng đẳng nucleosid. Các phản ứng phụ chính đã được ghi nhận là các rối loạn về huyết học (thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính), rối loạn chuyển hóa (tăng lactat huyết, tăng lipid huyết). Các phản ứng phụ này thường là thoáng qua. Một số rối loạn thần kinh bùng phát muộn đã được ghi nhận (tăng trương lực, co giật, hành vi bất thường). Các rối loạn thần kinh là thoáng qua hay vĩnh cữu hiện tại chưa được biết.

Loạn dưỡng mỡ và những bất thường về sự chuyển hóa: Ở những bệnh nhân HIV trị liệu kháng retrovirus kết hợp có sự phân bố lại mỡ trong cơ thể (loạn dưỡng mỡ). Hậu quả lâu dài của những trường hợp này hiện tại chưa được biết. Những hiểu biết về sự chuyển hóa thì không đầy đủ.

Có giả thuyết cho rằng có sự liên quan giữa bệnh u mỡ nội tạng với các chất ức chế protease (PIs) và sự loạn dưỡng mỡ với các chất ức chế enzym sao chép ngược nucleosid (NRTIs). Nguy cơ cao hơn của sự loạn dưỡng mỡ được đi kèm với các yếu tố cá nhân như lớn tuổi, và các yếu tố liên quan đến thuốc như thời gian điều trị với thuốc kháng retrovirus dài hơn và có rối loạn chuyển hóa đi kèm. Nên kiểm tra lâm sàng kể cả việc đánh giá các dấu hiệu thể chất của sự phân bố lại mỡ. Nên đo lipid huyết thanh và glucose huyết lúc nhịn ăn. Nên kiểm soát sự rối loạn lipid như là một chỉ định lâm sàng.

Hoại tử xương: Mặc dù khoa nghiên cứu nguyên nhân bệnh đã xem xét đến nhiều yếu tố (kể cả việc dùng corticosteroid, uống rượu, sự ức chế miễn dịch nặng, chỉ số khối cơ thể cao), các trường hợp hoại tử xương đã được ghi nhận đặc biệt ở những bệnh nhân bị bệnh HIV trước đó và/hoặc trị liệu kháng retrovirus kết hợp thời gian dài (CART). Nên khuyên bệnh nhân gặp thầy thuốc nếu họ bị đau và nhức khớp, cứng khớp hoặc khó khăn trong việc di chuyển.

Phát ban: Phát ban nhẹ đến trung bình đã được ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) và thường quyết định tiếp tục điều trị. Các thuốc kháng histamin và/hoặc các corticosteroid có thể cải thiện sự dung nạp và mau chóng làm mất đi triệu chứng phát ban. Phát ban nặng kèm với mụn nước, sự tróc vảy chảy mủ hay loét đã được ghi nhận ở ít hơn 1% số bệnh nhân điều trị với efavirenz. Tỉ lệ mắc hồng ban đa dạng hoặc hội chứng Stevens-Johnson khoảng 0,1%. Phải ngưng dùng thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) ở những bệnh nhân bị phát ban nặng kèm với mụn nước, tróc vảy, lan tỏa đến cả niêm mạc hay sốt. Nếu việc trị liệu với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) bị ngưng, cũng nên cân nhắc gián đoạn việc trị liệu với các tác nhân kháng retrovirus khác để tránh sự phát triển của các virus kháng thuốc. Những bệnh nhân đã ngưng điều trị với các NNRTI khác do phát ban có thể có nguy cơ phát ban cao hơn khi điều trị với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg).

Các triệu chứng tâm thần: Các phản ứng có hại tâm thần đã được ghi nhận ở những bệnh nhân điều trị với thuốc kết hợp liều cố định. Những bệnh nhân có tiền sử rối loạn tâm thần trước đó sẽ có nguy cơ về các phản ứng có hại tâm thần nghiêm trọng cao hơn. Đặc biệt, trầm cảm nặng thường gặp nhiều hơn ở những bệnh nhân có tiền sử về trầm cảm. Cũng có các báo cáo về trầm cảm nặng, chết do tự sát, ảo giác và hành vi giống như rối loạn tâm thần sau khi lưu hành thuốc. Nên khuyên bệnh nhân gặp bác sĩ ngay nếu họ có các triệu chứng như trầm nặng, rối loạn tâm thần hay có ý nghĩ tự sát để đáng giá khả năng những triệu chứng này có liên quan đến việc dùng thuốc kết hợp liều cố định này hay không. Và nếu có, xác định xem nhựng nguy cơ của việc tiếp tục điều trị có hẳn những lợi ích mang lại hay không.

Các triệu chứng trên hệ thần kinh trung ương: Các triệu chứng gồm, nhưng không hạn chế, chóng mặt, mất ngủ, buồn ngủ, kém tập trung và ác mộng là những phản ứng không mong muốn được ghi nhận thường xuyên ở những bệnh nhân dùng 1 viên kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg), 1 lần mỗi ngày trong các nghiên cứu lâm sàng. Các triệu chứng trên hệ thần kinh trung ương thường xuất hiện khi bắt đầu điều trị 1-2 ngày đầu thường biến mất sau 2-4 tuần điều trị đầu tiên. Nếu chúng xảy ra, bệnh nhân nên được biết rằng những triệu chứng thường gặp này có thể cải thiện với sự ngưng thuốc và không thể tiên đoán được đợt bùng phát kế tiếp của bất kỳ triệu chứng tâm thần ít thường xuyên nào.

Động kinh: Co giật hiếm khi được quan sát ở những bệnh nhân dùng thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg), thường thấy ở những bệnh nhân đã có tiền sử động kinh do thuốc đã biết. Những bệnh nhân đang dùng đồng thời với thuốc chống co giật được chuyển hóa chủ yếu qua gan, như phenytoin, carbamazepin và phenobarbital, có thể yêu cầu theo dõi nồng độ trong huyết tương định kỳ. Trong một nghiên cứu về tương tác thuốc, nồng độ trong huyết tương của carbamazepin giảm khi carbamazepin được dùng đồng thời với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg). Phải thận trọng ở bệnh nhân đã có tiền sử động.

Ảnh hưởng của thức ăn: Việc dùng thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) với thức ăn có thể làm tăng sự phơi nhiễm của efavirenz và có thể dẫn đến làm tăng tần số xuất hiện của các phản ứng không mong muốn. Thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) được khuyến cáo uống vào lúc bụng đói, tốt nhất là trước khi đi ngủ.

Lactose: Viên kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) không thích hợp cho những người có rối loạn di truyền hiếm gặp của chứng loạn chuyển hóa cacbon hydrat bẩm sinh hoặc hội chứng kém hấp thu glucose/galactose.

TƯƠNG TÁC VỚI CÁC THUỐC KHÁC VÀ CÁC DẠNG TƯƠNG TÁC KHÁC
Vì kết hợp liều cố định bao gồm tenofovir, lamivudin, efavirenz, nên bất kỳ tương tác nào đã được xác định với tường thành phần riêng biệt trong đó đều có thể xảy ra với thuốc kết hợp liều cố định.

Các nghiên cứu về tương tác chỉ được thực hiện ở người lớn.
Dựa trên kết quả thực nghiệm in vitro và con đường thải trừ được biết của tenofovir, khả năng tương tác qua trung gian CYP450 của tenofovir với thuốc khác là thấp.

Tenofovir được bài tiết qua thận, cả sự lọc qua cầu thận và sự bài tiết chủ động qua hệ vận chuyển amino (HOAT1). Dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) với các thuốc khác mà cũng được bài tiết chủ động qua hệ vận chuyển anion (như cidofovir) có thể làm tăng nồng độ của tenofovir hoặc các thuốc dùng chung.

Lamivudin có thể ức chế sự phosphoryl hóa nội bào của Zalcitabin khi hai thuốc này được dùng đồng thời. Vì thế, không nên sử dụng phối hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) với zalcitabin.

Không khuyến cáo dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) với ganciclovir hoặc foscarnet tĩnh mạch.

Sử dụng trimethoprim/sulfamethoxazol 160mg/800mg đồng thời với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) dẫn đến tăng 40% sự phơi nhiễm của lamivudin, do thành phần trimethoprim; thành phần sulfamethoxazol không tương tác. Tuy nhiên, trừ khi bệnh nhân suy thận, không cần thiết phải điều chỉnh liều của lamivudin. Thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) không ảnh hưởng lên dược động học của trimethoprim hay sulfamethoxazol. Khi việc dùng đồng thời được đảm bảo, bệnh nhân nên được theo dõi lâm sàng. Nên tránh dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) với các liều cao của co-trimoxazol để điều trị viêm phổi do Pneumocystis carinii và bệnh do toxoplasma.

Tăng vừa phải Cmax (28%) của zidovudin đã quan sát được khi dùng cùng với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg), tuy nhiên sự phơi nhiễm toàn thân (AUC) thì không thay đổi đáng kể.
Sự chuyển hóa của lamivudin không liên quan đến CYP3A, sự tương tác với các thuốc được chuyển hóa bởi hệ thống này (như các PI) là không thể xảy ra.

Efavirenz là một tác nhân gây cảm ứng CYP3A4 và là một chất ức chế một số isozym CYP kể cả CYP3A4. Nồng độ trong huyết tương của các hợp chất mà là chất nền của CYP3A4 có thể giảm khi dùng đồng thời với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg). Sự phơi nhiễm của Efavirenz cũng có thể bị thay đổi khi được dùng với các thuốc hay thức ăn (như dịch chiết nho) mà ảnh hưởng đến hoạt động của CY3A4.

Thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) không được dùng đồng thời với terfenadin, astemizol, cisaprid, midazolam, triazolam, pimozid, beprildil hoặc các alkaloid nấm cự gà (ví dụ, ergotamin, dihydroergotamin, ergonavin, và methylergonovin) vì ức chế sự chuyển hóa của chúng có thể dẫn đến các trường hợp nghiêm trọng, đe dọa tính mạng.

Các tác nhân kháng retrovirus kết hợp
Các chất ức chế protease:(PIs)
Amprenavir: không cần thiết điều chỉnh liều nếu thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz 300mg/300mg/600mg) được dùng kết hợp với amprenavir (600mg, 2 lần mỗi ngày) và ritonavir (100 hoặc 200mg, 2 lần mỗi ngày).

Hơn nữa, nếu thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) với amprenavir và saquinavir, vì sự phơi nhiễm đối với các PI giảm đáng kể.
Atazanavir: Dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) và atazanavir trong sự kết hợp với ritonavir có thể dẫn đến tăng sự phơi nhiễm của efavirenz mà có thể làm cho sự dung nạp của efavirenz trở nên tệ hơn. Dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) với atazanavir trong kết hợp với ritonavir liều thấp làm giảm đáng kể sự phơi nhiễm của atazanavir, cần phải điều chỉnh liều của atazanavir.

Indinavir: Không cần phải điều chỉnh liều của efavirenz khi thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) được dùng với indinavir hoặc indinavir/ritonavir.

Lopinavir/ritonavir: Khi được dùng đồng thời với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) nên cân nhắc tăng 33% liều của lopinavir/ritonavir (4 viên nang/~6,5 ml, 2 lần mỗi ngày thay vì 3 viên nang/5 ml, 2 lần mỗi ngày). Cần phải thận trọng vì việc điều chỉnh liều này có thể không đủ ở một số bệnh nhân.

Nelfinavir: không cần điểu chỉnh liều nelfinavir được dùng kết hợp với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz).

Ritonavir: Khi thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) được dùng với ritonavir 500mg hoặc 600mg, 2 lần mỗi ngày, sự kết hợp này không được dung nạp tốt (ví dụ, chóng mặt, buồn nôn, cảm giác khác thường và tăng enzym gan đã xảy ra).

Saquinavir: dùng kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) trong sự kết hợp với saquinavir là PI duy nhất không được khuyến cáo.
Saquinavir/ritonavir: Không có sẵn các dự liệu về khả năng tương tác của thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) với sự kết hợp với saquinavir và ritonavir.

Các NNRTI: Không có các nghiên cứu được thực hiện với kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) trong sự kết hợp với các NNRTI khác và khả năng tương tác dược động học hay dược lực học chưa được biết.

Các tác nhân kháng vi sinh vật:
Rifamicin: Rifampicin làm giảm AUC của efavirenz 26% và Cmax 20% ở những người tình nguyện không bị nhiễm. Liều của efavirenz phải được tăng lên 800mg/ngày khi dùng với rifampicin. Việc điều chỉnh liều của rifampicin không được khuyến cáo khi được dùng thuốc kết hợp với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz).

Trong một nghiên cứu ở những người tình nguyện không bị nhiễm, thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) làm giảm Cmax của rifabutin 32% và AUC của rifabutin 38%. Rifabutin không ảnh hưởng đáng kể lên dược động học của thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz). Những dữ liệu này gợi ý rằng liều hàng ngày của rifabutin nên tăng 50% khi được dùng với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) và liều rifabutin có thể tăng gấp đôi nếu fifabutin được dùng 2 hoặc 3 lần mỗi tuần trong kết hợp với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz).

Các kháng sinh nhóm macrolid:
Azithromycin: Không cần điều chỉnh liều khi azithromycin được dùng trong sự kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz).
Clarithromycin: Không khuyến cáo điều chỉnh liều của Efavirenz khi thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) được dùng với clarithromycin.
Các kháng sinh macrolid khác, như erythromycin, chưa được nghiên cứu trong sự kết hợp với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz).

Các tác nhân kháng nấm:
Voriconazol: Chống chỉ định dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) và voriconazol.
Itraconazol: Việc dùng đồng thời 1 viên thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) một lần mỗi ngày với itraconazol (200mg đường uống mỗi 12 giờ) ở những người tình nguyện không bị nhiễm đã làm giảm AUC, Cmax, và Cmin của itraconazol ở trạng thái ổn định là 39%, 37%, và 44% tương ứng, và của hydroxyitraconazol là 37%, 35% và 43%, tương ứng, so với itraconazol được dùng một mình. Vì không có liều khuyến cáo cho itraconazol nên cần xem xét dùng các thuốc kháng nấm khác.

Các tác nhân kháng nấm khác: Không có sự tương tác dược động học có ý nghĩa lâm sàng được thấy khi fluconazol và thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) được dùng đồng thời ở những người tình nguyện không bị nhiễm. Khả năng tương tác giữa thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) và các thuốc kháng nấm imidazol và triazol khác, như itraconazol và ketoconazol, không được nghiên cứu.

Các thuốc chống co giật:
Carbamazepin: Việc dùng đồng thời 1 viên thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz), một lần mỗi ngày với carbamazepin (400mg một lần mỗi ngày) ở những người tình nguyện không bị nhiễm dẫn đến tương tác hai phía. AUC, Cmax và Cmin ở trạng thái ổn định của efavirenz giảm 36%, 21% và 47%, tương ứng. AUC, Cmax và Cmin ở trạng thái ổn định của chất chuyển hóa epoxide carbamazepin có hoạt chất có hoạt tính không thay đổi. Nồng độ trong huyết tương của carbamazepin nên được theo dõi định kỳ. Không có dữ liệu về việc dùng đồng thời các liều cao hơn của efavirenz hoặc carbamazepin; vì thế, không có liều khuyến cáo và nên cần cân nhắc thay thế điều trị với thuốc chống co giật khác.

Các thuốc chống co giật khác: Không có sẵn dữ liệu về khả năng tương tác giữa thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) và phenytoin, phenobartial, hoặc các thuốc chống co giật khác mà là chất nền của isozym CYP450. Khi thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) được dùng đồng thời với những tác nhân này, có thể có sự giảm hoặc tăng nồng độ trong huyết tương của mỗi thuốc; Vì thế, nên tiến hành theo dõi nồng độ trong huyết tương định kỳ. Các nghiên cứu về tương tác đặc biệt không được thực hiện với thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) và vigabatrin hoặc gabapentin. Các tương tác có ý nghĩa lâm sàng sẽ không xảy ra vì vigabatrin và gabapentin được thải trừ riêng biệt ở dạng không thay đổi qua nước tiểu và sẽ không thể xảy ra cạnh tranh các enzyme chuyển hóa giống nhau và các con đường thải trừ giống efavirenz.

Các tác nhân làm giảm lipid:
Việc dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (Tenofovir/Lamivudin/efavirenz) với chất ức chế men khử HMG-CoA như atorvastatin, pravastatin, hoặc simvastatin đã cho thấy làm giảm nồng độ trong huyết tương của statin ở những người tình nguyện không bị nhiễm. Nên theo dõi định kỳ nồng độ cholesteron. Có thể cần phải điều chỉnh liều của các statin.

Các tương tác khác:
Thuốc kháng acid/famotidin: Cả các thuốc kháng acid nhôm/magnesi hydroxid lẫn famotidin đều không làm thay đổi sự hấp thu của efavirenz ở những người tình nguyện không bị nhiễm. Các dữ liệu này gợi ý rằng sự thay đổi pH dạ dày bởi các thuốc khác sẽ không thể ảnh hưởng đến sự hấp thu của efavirenz.

Các thuốc tránh thai đường uống: Chỉ có thành phần ethinyloestradiol của các thuốc tránh thai đường uống được nghiên cứu. AUC sau khi dùng liều duy nhất ethinyloestradiol, tăng 37% sau nhiều liều efavirenz. Sự thay đổi không có ý nghĩa được quan sát ở Cmax của ethinyloestradiol. Ý nghĩa lâm sàng của những tác động này không được biết. Không có sự ảnh hưởng của liều duy nhất ethinyloestradoil lên Cmax hoặc AUC của efavirenz. Vì khả năng tương tác của efavirenz với các thuốc tránh thai đường uống không được mô tả đầy đủ, nên phải dùng một phương pháp tránh thai màng ngăn đáng tin cậy kèm với thuốc tránh thai đường uống.

Methadon: Trong một nghiên cứu ở những bệnh nhân HIV là người nghiện tiêm chích ma túy, dùng đồng thời efavirenz với methadon làm giảm nồng độ trong huyết tương của methadon và dẫn đến các dấu hiệu cai nghiện thuốc phiện. Liều methadon phải được tăng trung bình 22% để làm giảm bớt hội chứng cai. Bệnh nhân nên được theo dõi các dấu hiệu cai nghiện và liều methadon cần được tăng để làm giảm bớt hội chứng cai.

Dược thảo St.John’wort (Hypericum perforatum): Nồng độ trong huyết tương của efavirenz có thể bị giảm khi dùng đồng thời thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) với các chế phẩm thảo dược St. John’wort (Hypericum perforatum). Điều này là do sự cảm ứng của các enzym chuyển hóa thuốc và/ hoặc vận chuyển protein bởi St. John’s wort. Các chế phẩm thảo dược chứa St. John’s wort không được dùng đồng thời với thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz). Nếu một bệnh nhân đang dùng St. John’s wort, nên ngưng St. John’s wort, kiểm tra mật độ virus và nếu có thể kiểm tra luôn nồng độ của efavirenz. Nồng độ của efavirenz có thể tăng khi ngưng St. John’s wort và liều của efavirenz có thể cần được điều chỉnh. Tác động gây ra của St. John’s wort có thể vẫn còn tồn tại ít nhất 2 tuần sau khi ngưng điều trị.

Các thuốc chống trầm cảm: Không có những ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng lên các thông số dược động học khi paroxetin và thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) được dùng đồng thời. Không cần điều chỉnh liều cho efavirenz hoặc cho paroxetin khi những thuốc này được dùng đồng thời. Sertralin, một chất nền của CYP3A4, không làm thay đổi có ý nghĩa dược động học của efavirenz. Thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) làm giảm Cmax, C24 và AUC của sertralin từ 28,6 - 46,3%. Liều của sertralin nên được tăng theo đáp ứng lâm sàng.

Cetirizin: Không cần điều chỉnh liều cho efavirenz hoặc cho cetirizin khi thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/ lamivudin/efavirenz) được dùng đồng thời với cetirizin.

Lorazepam: Thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) làm tăng Cmax và AUC của lorazepam 16,3% và 7,3% tương ứng. Những thay đổi này không được xem xét để biết có ý nghĩa lâm sàng hay không. Không cần thiết phải điều chỉnh liều.

Các thuốc chẹn kênh calci: Không cần thiết phải điều chỉnh liều efavirenz khi thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) dùng đồng thời với diltiazem.

Không có sẵn các dữ liệu về khả năng tương tác của thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) với các thuốc chẹn kênh calci khác mà là chất nền của enzym CYP3A4 (như verapamil, felodipin, nifedipin, nicardipin). Khi thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) được dùng đồng thời với một trong những tác nhân này, có khả năng làm giảm nồng độ trong huyết tương của các thuốc chẹn kênh calci. Việc điều chỉnh liều nên được hướng dẫn theo đáp ứng lâm sàng (tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của các thuốc chẹn kênh calci).

PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ
Phụ nữ mang thai
Không nên sử dụng thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) trong thời kỳ mang thai trừ khi thật sự cần thiết (khi không có sự lựa chọn nào phù hợp hơn).

Phụ nữ được điều trị với thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) nên tránh có thai. Phương pháp tránh thai vách ngăn nên được dùng kèm với các phương pháp tránh thai khác (ví dụ, thuốc tránh thai hormon đường uống hoặc đường khác). Phụ nữ có khả năng sinh con nên khám thai trước khi dùng thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz).

Không có những nghiên cứu đầy đủ và kiểm soát tốt trên thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/ efavirenz) ở phụ nữ mang thai. Trong kinh nghiệm sau khi thuốc ra thị trường thông qua một cơ quan đăng ký khám thai, nhiều hơn 200 thai phụ dùng efavirenz trong 3 tháng đầu như một phần của chế độ kháng retrovirus kết hợp đã được ghi nhận là không có mẫu dị tật nào điển hình. Một số nhỏ trường hợp bị thiếu hụt ống thần kinh, kể cả thoát vị màng tủy-tủy sống, đã được ghi nhận nhưng nguyên nhân chưa được thiết lập. Các nghiên cứu ở động vật đã chỉ ra độc tính trên khả năng sinh sản kể cả những tác động quái thai rõ ràng.

Phụ nữ cho con bú
Các nghiên cứu ở chuột cống đã chỉ ra rằng efavirenz và tenofovir được bài tiết vào sữa; nồng độ efavirenz trong sữa cao hơn nhiều so với trong huyết tương mẹ.
Vì thế, những người mẹ đang được điều trị với thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) được khuyến cáo không cho con bú. Theo nguyên tắc chung, những phụ nữ bị nhiễm HIV được khuyến cáo không cho con bú trong bất kỳ hoàn cảnh nào để tránh lây truyền HIV cho con.

TÁC ĐỘNG TRÊN KHẢ NĂNG LÁI XE VÀ VẬN HÀNH MÁY MÓC
Không có các nghiên cứu về tác động của thuốc lên khả năng lái xe và việc dùng máy móc được thực hiện. Tuy nhiên, bệnh nhân nên được thông báo rằng chóng mặt đã được ghi nhận trong thời gian điều trị với tenofovir disoproxil fumarat. Efavirenz có thể gây chóng mặt, giảm tập trung, và/hoặc buồn ngủ. Bệnh nhân nên được biết rằng nếu họ có các triệu chứng này thì họ nên tránh những công việc có khả năng nguy hiểm như lái xe và vận hành máy móc.

PHẢN ỨNG KHÔNG MONG MUỐN
Dữ liệu về các tác dụng phụ của thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) hiện còn hạn chế. Vì thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) có chứa tenofovir, lamivudin, và efavirenz nên các tác dụng phụ của từng thành phần thuốc này đều có thể xảy ra khi sử dụng viên thuốc kết hợp.

Trong nghiên cứu lâm sàng và sau khi thuốc được sử dụng rộng rãi trên thị trường, các tác dụng phụ do từng thành phần của thuốc kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/efavirenz) trong phác đồ điều trị phối hợp kháng retrovirus được liệt kê trong bảng bên dưới theo hệ cơ quan và tần số xuất hiện tuyệt đối.

Tần số được xác định là rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100, < 1/10), không thường gặp (≥ 1/1000, < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10,000, < 1/1000) hay rất hiếm gặp (< 1/10,000) kể cả các báo cáo độc nhất, hoặc không được biết (được xác định thông qua việc khảo sát sự an toàn sau khi lưu hành và tần số không thể được ước lượng từ các dữ liệu sẵn có)
Các tác dụng phụ kết hợp từ từng thành phần trong viên kết hợp liều cố định (tenofovir/lamivudin/ efavirenz) dựa trên thử nghiệm lâm sàng và thông tin hậu mãi.
Trị liệu kháng retrovirus kết hợp gây ra những bất thường về chuyển hóa như tăng triglycerid huyết, tăng cholesterol huyết, kháng insulin, tăng glucose huyết và tăng lactat huyết.

Trị liệu kháng retrovirus kết hợp gây phân bố lại mỡ trong cơ thể (loạn dưỡng mỡ) ở những bệnh nhân HIV kể cả giảm mỡ dưới da mặt và ngoại biên, tăng mỡ trong nội tạng và trong ổ bụng, phì đại vú và sự tích tụ mỡ ở sau gáy (bướu trâu).

Trong 1 nghiên cứu lâm sàng được kiểm soát 144 tuần ở những bệnh nhân chưa từng dùng thuốc kháng retrovirus, so sánh tenofovir disoproxil fumarat với stavudin trong kết hợp với lamivudin và efavirenz, bệnh nhân dùng tenofovir disoproxil có tỉ lệ mắc phải chứng loạn dưỡng mỡ thấp hơn có ý nghĩa so với những bệnh nhân dùng stavudin. Bệnh nhân dùng tenofovir disoproxil fumarat cũng có sự tăng triglycerid béo trung bình và cholesterol tổng cộng ít hơn có ý nghĩa so với những bệnh nhân dùng stavudin.

Ở những bệnh nhân nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nặng vào thời điểm khởi đầu trị liệu kháng retrovirus kết hợp (CART), một phản ứng viêm đối với những mầm bệnh không có triệu chứng bị bệnh hay những mầm bệnh cơ hội còn lại có thể nảy sinh.

Các trường hợp nhiễm acid lactic, đôi khi gây chết, thường đi kèm với chứng gan to nặng và chứng nhiễm mỡ ở gan, đã được ghi nhận khi dùng các đồng đẳng nucleosid.

Các trường hợp hoại tử xương đã được ghi nhận, đặc biệt ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ đã được thừa nhận, đã bị HIV trước đó hoặc dùng kháng retrovirus kết hợp thời gian dài. Tần số xuất hiện chưa được biết.

Hội chứng phục hồi miễn dịch: Ở những bệnh nhân nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nặng vào thời điểm khởi đầu trị liệu kháng retrovirus kết hợp (CART), một phản ứng viêm đối với những mầm bệnh không có triệu chứng hay những mầm bệnh cơ hội còn lại có thể nảy sinh.

Các bất thường trong thử nghiệm cận lâm sàng

Các enzym gan: Aspartat aminotransferase (AST) và alanin aminotransferase (ALT) tăng lớn hơn 5 lần so với giới hạn trên của mức bình thường (ULN) được thấy ở 3% trong số 1008 bệnh nhân được điều trị với 600 mg efavirenz (5-8% sau khi điều trị lâu dài trong nghiên cứu 006). Sự tăng tương tự được thấy ở những bệnh nhân được điều trị với chế độ kiểm soát (5% sau khi điều trị lâu dài). Sự tăng gamma-glutamyltransferase (GGT) lớn hơn 5 lần so với giới hạn trên của mức bình thường được quan sát thấy ở 4% trong số tất cả các bệnh nhân được điều trị với 600 mg efavirenz và 1,5-2% số bệnh nhân được điều trị với chế độ kiểm soát (7% số bệnh nhân được điều trị với efavirenz và 3% số bệnh nhân được điều trị với chế độ kiểm soát sau khi điều trị lâu dài). Sự tăng độc nhất GGT ở những bệnh nhân dùng efavirenz có thể phản ánh sự cảm ứng men. Trong nghiên cứu lâu dài (006), 1% số bệnh nhân trong mỗi nhánh điều trị đã ngưng thuốc do các rối loạn hệ gan hoặc mật.

Trong tập hợp các dữ liệu lâu dài từ nghiên cứu 006, 137 bệnh nhân đã điều trị với chế độ có chứa efavirenz (thời gian điều trị trung bình 68 tuần) và 84 bệnh nhân điều trị với chế độ kiểm soát (thời gian trung bình 56 tuần) thì có huyết thanh dương tính với viêm gan B (dương tính kháng nguyên bề mặt) và/hoặc C (dương tính kháng thể viêm gan C). Trong số những bệnh nhân bị nhiễm cả hai, sự tăng AST lớn hơn 5 lần so với giới hạn trên của mức bình thường được thấy ở 13% số bệnh nhân dùng efavirenz và 7% số bệnh nhân kiểm soát, và sự tăng ALT lớn hơn 5 lần so với giới hạn trên của mức bình thường được thấy ở 20% số bệnh nhân dùng efavirenz và 7% số bệnh nhân kiểm soát. Trong số những bệnh nhân bị nhiễm cả hai, 3% bệnh nhân đã điều trị với chế độ có chứa efavirenz và 2% bệnh nhân điều trị với một chế độ kiểm soát đã ngưng thuốc do các rối loạn hệ gan hoặc mật. Lý do cho việc ngưng thuốc của những bệnh nhân bị nhiễm cả hai dùng efavirenz kể cả các bất thường enzym gan; không có sự ngưng thuốc do viêm gan ứ mật, suy gan hoặc gan nhiễm mỡ được ghi nhận trong nghiên cứu này.

Amylase: Trong thử nghiệm lâm sàng 1008 bệnh nhân, sự tăng không triệu chứng nồng độ amylase trong huyết thanh lớn hơn 1,5 lần so với giới hạn trên của mức bình thường được gặp ở 10% số bệnh nhân được điều trị với efavirenz và 6% số bệnh nhân được điều trị với chế độ kiểm soát. Ý nghĩa lâm sàng của sự tăng không triệu chứng của amylase trong huyết thanh chưa được biết.

Lipids: Tăng cholesterol toàn phần 10 - 20% đã được quan sát ở một số người tình nguyện không bị nhiễm dùng efavirenz. Trong các thử nghiệm lâm sàng các chế độ có chứa efavirenz khác nhau ở các bệnh nhân chưa điều trị trước đó, cholesterol toàn phần, HDL-cholesterol, và triglycerid tăng sau 48 tuần điều trị (21 - 31%, 23 - 34%, và 23 - 49%, tương ứng). Phần bệnh nhân có tỉ lệ cholesterol toàn phần /HDL-cholesterol lớn hơn 5 thì không thay đổi. Cường độ của sự thay đổi nồng độ lipid có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như thời gian điều trị và các thành phần khác của thuốc kháng retrovirus.

Tương tác với xét nghiệm cần sa (Cannabinoid): Efavirenz không gắn kết với các receptor cannabinoid. Thử nghiệm cannabinoid nước tiểu dương tính giả đã được ghi nhận ở những người tình nghuyện không bị nhiễm mà dùng efavirenz. Kết quả thử nghiệm dương tính giả chỉ được quan sát với thử nghiệm THC đa nồng độ CEDIA DAU, mà được dùng cho việc sàng lọc, và không được quan sát với các thử nghiệm cannabinoid khác kể cả thử nghiệm được dùng cho việc chứng thực kết quả dương tính.

Kinh nghiệm sau lưu hành với efavirenz cho thấy các phản ứng phụ sau xảy ra kèm với chế độ điều trị kháng retrovirus chứa efavirenz: ảo giác, chứng vú to đàn ông, suy gan, loạn thần kinh chức năng, viêm da quang dị ứng, rối loạn tâm thần và tự tử.

QUÁ LIỀU

Đã ghi nhận một số bệnh nhân chẳng may uống efavirenz 600 mg, 2 lần mỗi ngày đã tăng các triệu chứng hệ thần kinh. Một bệnh nhân bị co cơ không tùy ý.
Nếu quá liều xảy ra bệnh nhân phải được theo dõi các dấu hiệu ngộ độc và được áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ chuẩn khi cần thiết.
Có thể cho bệnh nhân uống than hoạt tính để hỗ trợ loại bỏ efavirenz chưa được hấp thu. Không có thuốc giải độc đặc hiệu khi dùng quá liều efavirenz. Do efavirenz được gắn kết cao với protein, nên thẩm tách không thể loại bỏ được lượng thuốc đáng kể từ máu.

Tenofovir có thể được loại bỏ bằng sự thẩm phân máu; độ thanh thải thẩm phân máu trung bình của tenofovir là 134ml/phút. Sự thải trừ của tenofovir bởi sự thẩm phân màng bụng chưa được nghiên cứu. Vì lamivudin có thể được thẩm tách, sự thẩm phân máu liên tục có thể được dùng trong điều trị quá liều, mặc dù điều này chưa được nghiên cứu.

CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC

Cơ chế hoạt động:

Tenofovir disoproxil fumarat là muối fumarat của tiền dược tenofovir disoproxil. Tenofovir disoproxil được hấp thu và chuyển hóa thành dạng hoạt tính tenofovir, mà là một đồng đẳng nucleosid monophosphat (nucleotid). Sau đó tenofovir được chuyển thành chất chuyển hóa có hoạt tính tenofovir diphosphat, bởi các emzym tế bào thông qua hai phản ứng phosphoryl hóa trong cả tế bào không hoạt động tích cực và tế bào T đã hoạt hóa. Tenofovir diphosphat có thời gian bán thải là 10 giờ trong các tế bào đã hoạt hóa và 50 giờ trong các tế bào bạch cầu đơn nhân trong máu ngoại vi không hoạt động tích cực.

Tenofovir diphosphat ức chế polymerase virus bởi sự cạnh tranh gắn kết trực tiếp với chất nền tự nhiên deoxyribonucleotid và, sau khi hợp nhất vào DNA, bởi sự kết thúc chuỗi DNA. Tenofovir diphosphat là một chất ức chế yếu các polymerase tế bào α, β, và γ, với hằng số ức chế động học (Ki) mà cao hơn gấp 200 lần so với DNA polymerase của tế bào α người (5,2 μmol/l) và cao hơn gấp 3000 lần so với DNA polymerase của tế bào β và γ người (81,7 và 59,5 μmol/l, tương ứng) hơn Ki của enzym sao chép ngược HIV-1 (0,02 μmol/l). Ở nồng độ lên đến 300 μmol/l, tenofovir cho thấy không ảnh hưởng trên sự tổng hợp của DNA ty lạp thể hoặc sự sản xuất acid lactic trong thử nghiệm in vitro.

Lamivudin là một đồng đẳng nucleosid mà có hoạt tính chống lại virút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và virus viêm gan B (HBV). Nó được chuyển hóa trong tế bào thành một chất có hoạt tính, lamivudin 5’-triphosphat. Phương thức hoạt động chính của nó như là chất kết thúc chuỗi sao chép ngược của virus.

Efavirenz là một chất ức chế sao chép ngược non-nucleosid (NNRTI) của HIV-1. Efavirenz là một chất ức chế không cạnh tranh enzym sao chép ngược của HIV-1 và không ức chế có ý nghĩa enzym sao chép ngược của HIV-2 hoặc DNA polymerase của tế bào (α, β, γ hoặc δ).
Hoạt động kháng virus:

Tenofovir có hoạt tính kháng virus in vitro chống lại retrovirus và hepadnavirus.

Nồng độ yêu cầu của tenofovir để ức chế 50% (IC50) chủng HIV-1IIIB cận lâm sàng loại hoang dại là 1-6 μmol/l trong các dòng tế bào dạng bạch huyết và là 1,1 μmol/l đối với các chủng phân lập HIV-1 nhóm dưới B trong các tế bào bạch cầu đơn nhân trong máu ngoại vi. Tenofovir cũng có hoạt tính chống lại HIV-1 nhóm A, C, D, E, F, G, và O và chống lại HIVBaL trong các tế bào bạch cầu đơn nhân to/ đại thực bào nguyên phát. Tenofovir chỉ ra có hoạt tính trên in vitro chống lại HIV-2, với IC50 là 4,9 μmol/l trong cá.

Lên đầu trang
0 Xem giỏ hàng